1. Xuất
tinh khô
Xuất tinh khô ( dry ejaculation) là xuất tinh nhưng không có hay chỉ có vài giọt tinh dịch. Xuất tinh khô hay gặp ở người lớn tuổi. Ngoài ra, nguyên nhân của xuất tinh khi có thể do xuất tinh ngược dòng, bất sản ống dẫn tinh và túi tinh hai bên, tắc ống phóng tinh hai bên và suy tuyến sinh dục. Điều trị xuất tinh ngược dòng ( mục 2), tắc ống phóng tinh bằng cắt đốt nội soi ống phóng tinh, suy tuyến sinh dục bằng hormon sẽ giúp cải thiện tình trạng xuất tinh khô.
2. Xuất
tinh ngược dòng
Xuất tinh ngược dòng ( retrograde ejaculation)
là sự tống xuất của tinh dịch trong niệu đạo sau vào bàng quang, hoàn toàn hay
một phần. Xuất tinh ngược dòng là do sự hỏng cơ chế đóng mở cổ bàng quang, thường
do phẫu thuật tuyến tiền liệt gây ra. Bệnh nhân vẫn có cảm giác cực khoái, dù có
thể cảm giác này bị giảm ít nhiều, Khác với không xuất tinh, bệnh nhân xuất
tinh ngược dòng vẫn có cực khoái và tinh trùng trong nước tiểu sau khi thủ dâm.
Khác với xuất tinh khô, bệnh nhân xuất tinh ngược dòng có tinh trùng trong nước
tiểu.
2.1. Nguyên
nhân
- Nguyên nhân
giải phẫu: có thể bẩm sinh ( van niệu đạo sau, khiếm khuyết tam giác bàng
quang, rối loạn chức năng bẩm sinh tam giác bàng quang hay bàng quang lộ thiên)
hay mắc phải ( hẹp niệu đạo, sau cắt đốt cổ bàng quang, sau cắt đốt nội soi tuyến
tiền liệt hay phẫu thuật mở cắt bỏ tuyến tiền liệt.
- Nguyên nhân
thần kinh: đó là các tổn thương thần kinh ảnh hưởng đến sự đóng cổ bàng quang
trong quá trình tiết tinh như chấn thương tủy sống, xơ cứng rải rác, bệnh thần
kinh tự chủ ( trong đái tháo đường).
- Nguyên nhân
do thuốc: nhiều loại thuốc có thể gây xuất tinh ngược dòng do là liệt cổ bàng
quang như thuốc hạ huyết áp ( phenoxybenzamin, clonidin, guanethidin, thazide),
các thuốc ức chế alpha 1( alfuzosin, phenoxybenzamin, prazosin, tamsulosin, terazosin),
thuốc an thần ( chlopromazin, fluphenazin, levomepromazin,...) và tất cả các
thuốc chống trầm cảm.
Cuối cùng một số trường hợp xuất
tinh ngược dòng không rõ nguyên nhân.
2.2. Điều
trị
Khả năng thành công của điều trị xuất
tinh ngược dòng còn phụ thuộc nguyên nhân gây bệnh. Nếu do thuốc thì ngừng thuốc
sẽ giúp phục hồi. Trong các trường hợp khác, điều trị nhằm tăng trương lực giao
cảm của cổ bàng quang hay giảm trương lực phó giao cảm. Trong các trường hợp tổn
thương thần kinh một phần thì thuốc có thể thành công. Thuốc được sử dụng nhiều
nhất trong xuất tinh ngược dòng là ephedrin ( 30mg – 60mg một giờ trước khi giao
hợp), pseudoephedrin ( 60mg -120mg hai giờ trước khi giao hợp). Các chất này kích
thích sự phóng xuất norepineprin từ các tận cùng thần kinh cà cũng như có thể kích
thích trực tiếp trên cả các thụ thể alpha và beta adrenergic. Thuốc chống trầm
cảm ba vòng có tác động kháng cholinergic như desipramin ( 50mg một hay hai giờ
trước khi giao hợp) hay imipramin ( 25mg -75mg 2-3 lần mỗi ngày).
3. Chậm
xuất tinh và không xuất tinh
Không xuất tinh là sự không tiết
tinh vào niệu đạo sau. Bất cứ thuốc hay thủ thuật nào làm hư hại sự cung cấp thần
kinh giao cảm cho ống dẫn tinh và cổ bàng quang, thần kinh thân thể ly tâm tới
sàn chậu hay thần kinh thân thể hướng tâm tới dương vật đề có thể gây không tiết
tinh ( emission) hay chậm xuất tinh ( delayed ejaculation). Tần suất không xuất
tinh là 1.5/1000 nam giới. Bệnh nhân chậm xuất tinh hay không xuất tinh không đạt
cực khoái khi giao hợp và không có tinh trùng trong nước tiểu sau giao hợp.
Nguyên nhân có thể là do tâm lý hay
tổn thương thực thể. Các nguyên nhân thực thể có thể là chấn thương tủy sống trên
(T10), cắt hạch giao cảm ( symphathetomy), hay phẫu thuật cắt đại trực tràng,
trực tràng, phình động mạch chủ và các bệnh mạch máu ngoại khoa khác, phẫu thuật
mở cắt phì địa tiền liệt tuyến và nạo hạch sau phúc mạc do ung thư tinh hoàn.
Ngoài ra các thuốc chống trầm cảm, an thần cũng là một trong những nguyên nhân
gây ra tình trạng này.
Liệu pháp tâm lý có thể hiệu quả
trong các trường hợp bệnh lý do nguyên nhân tâm lý. Các trường hợp tổn thương
thực thể không điều trị được. Một vài loại thuốc được sử dụng để điều trị chậm
xuất tinh, không xuất tinh do các thuốc chống trầm cảm, an thần gây ra và hiệu
quả của các thuốc này cũng chưa được kiểm chứng rõ ràng:
- Chất đối vận
thụ thể 5-HT: cyproheptadin với liều 2- 16mg dùng hàng ngày hay khi có nhu cầu,
có thể hiệu quả trong phục hồi chứng không cực khoái do các thuốc chống trầm cảm
nhóm SSRI gây ra.
- Các thuốc
dopaminergic: amatadin 100-200mg, apomorphin, yohimbin.
- Chất đồng
vận thụ thể 5-HT1A: buspiron 15 – 60mg mỗi ngày.
- Chất ức chế
tái hấp thu dopamin: bupropion.
4. Xuất
tinh máu
Xuất tinh ra máu là tình trạng có máu lẫn trong tinh dịch khi
xuất tinh. Thông thường, xuất tinh ra máu là bệnh lành tính và tự khỏi nhưng rất
hay tái phát (đối với những người trẻ tuổi, dưới 45). Trong một số ít các trường
hợp thì đây lại là triệu chứng của một bệnh lý ác tính (đối với những người có
tuổi, trên 45).
4.1.
Nguyên nhân
- Viêm là một
trong các nguyên nhân thường gặp nhất. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn
đến hiện tượng sung huyết và phù nề của các ống, các tuyến của đường dẫn tinh,
túi tinh, tuyến tiền liệt, ụ núi và niệu đạo. Từ đó gây xuất tinh ra máu. Các
nguyên nhân gây viêm là do nhiễm khuẩn, chấn thương và sỏi túi tinh hay calci
hóa tuyến tiền liệt. Nhiễm khuẩn thường gặp như: enterobacteria (chủ yếu là
escherichia coli), Chlamydia, gram dương, trực khuẩn lao và một số loại virus.
Cần lưu ý: lao là nguyên nhân chủ yếu ở Việt Nam.
- Tắc túi
tinh và các nang túi tinh: các nguyên nhân này gây căng và giãn túi tinh lâu
ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới niêm mạc.
- Ung thư: các
loại ung thư thường gặp phải kể đến là ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn
tinh, ung thư tinh hoàn, u lympho.
- Bệnh toàn
thân: các bệnh toàn thân thường gặp là rối loạn đông máu, hemophili, xơ gan,
tăng huyết áp.
- Thủ thuật:
sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, đặt dụng cụ niệu đạo, chạy tia xạ
trong ung thư tuyến tiền liệt, sau thắt ống dẫn tinh, sau cắt tinh hoàn…
- Giãn tĩnh
mạch niệu đạo: trường hợp này, tinh dịch thường không có lẫn máu mà chỉ đái máu
một bãi sau khi cương dương vật.
4.1. Chẩn
đoán xác định
– Lâm sàng: tinh dịch có màu đỏ hoặc màu nâu hoặc màu rỉ sắt.
– Xét nghiệm
tinh dịch đồ: có nhiều hồng cầu trong tinh dịch.
4.2. Điều
trị
a. Điều trị nội khoa
Chỉ định cho các trường hợp viêm và nhiễm khuẩn. Điều trị
kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất. Nếu không có kháng sinh đồ thì
dùng kháng sinh theo kinh nghiệm. Lựa chọn những loại kháng sinh nào có
phổ tác dụng đối với họ enterobacteria (chủ yếu là escherichia coli), đặc biệt
là ở những người trẻ thuốc phải có phổ tác dung đối với cả Chlamydia.
– Nhóm
quinolon: ciprofloxacin, norfloxacin, levofloxacin hay gatifloxacin. Liều uống
400 mg/ngày trong vòng 2 tuần đến 1 tháng.
– Nếu không
có quinolon thay thế bằng:
Trimethoprim/sulfamethoxazol
(bactrim) 480 mg/viên, 2 viên/ngày + doxycyclin 100 mg/viên, 1 – 2 viên/ngày,
dùng thuốc trong 10 – 15 ngày.
Cũng có thể
dùng: metronidazon 250 mg, uống 2 viên/ngày + clindamycin/erythromycin dùng
trong 2 tuần.
Dùng phối hợp
với các thuốc chống viêm, giảm phù nề, thuốc cầm máu.
–
α-chymotripsin 4,2 mg/viên, dùng 4 viên/ngày, trong 7 ngày
– Các thuốc
cầm máu: transamin 250 mg/viên, 2 – 4 viên/ngày, trong 5 ngày
Trường hợp lao sinh dục tiết niệu: điều trị theo phác đồ chữa
lao.
b. Điều
trị ngoại khoa
Chỉ định trong các trường hợp:
– Bệnh lý tại
chỗ như tắc túi tinh, nang túi tinh hay sỏi túi tinh.
– Các bệnh
ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn tinh (ống dẫn tinh, túi tinh) và ung
thư tinh hoàn.
– Giãn tĩnh
mạch niệu đạo.
5. Xuất
tinh đau
Thường các nguyên nhân gây đau là do
nhiễm trùng tiết niệu - sinh dục: nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm túi tinh, viêm tiền
liệt tuyến,... Điều trị bằng kháng sinh giống như xuất tinh máu.

Đăng nhận xét