I. Định nghĩa

    Rối loạn cương dương là một tình trạng bệnh lý biểu hiện dương vật không cương được khi người nam giới có ham muốn tình dục, hoặc cương không đủ cứng để giao hợp, hoặc người nam giới mới đưa dương vật vào âm đạo của người nữ dương vật đã xìu xuống, do đó người nam giới không tiến hành được trọn vẹn cuộc giao hợp.

    Năm 1992, Hiệp hội Niệu khoa Mỹ và Viện Y tế Quốc gia Mỹ đã thống nhất định nghĩa: “ Rối loạn cương dương là không có khả năng đạt được và duy trì độ cương cứng của dương vật để tiến hành cuộc giao hợp một cách trọn vẹn”.

    Năm 1999, tại Paris ( Pháp), trong cuộc Hội thảo của Tổ chức Y tế Thế giới lại đưa ra định nghĩa: “ Rối loạn cương dương là không thể đạt được và/ hoặc duy trì sự cương cứng đủ để tiến hành cuộc giao hợp một cách nhất quán tái diễn ít nhất 3 tháng, trừ khi có một nguyên nhân rõ ràng như chấn thương hay phẫu thuật gây nên”.

    Rối loạn cương nguyên phát là tình trạng rối loạn cương xảy ra ngay từ khi trưởng thành, trong khi rối loạn cương thứ phát là tình trạng mất khả năng cương bình thường trước đó.

II. Tần suất

            Một nghiên cứu trên 1290 đối tượng nam giới từ 40 đến 70 tuổi tại Massachusetts ( Mỹ) chỉ ra 52% người ghi nhận có rối loạn cương dương ở mức độ nào đó. Tuổi càng cao tỷ lệ mắc rối loạn cương dương càng nhiều.

            Tại các nước châu Á, tỷ lệ rối loạn cương dương được ghi nhận là 26% tại Nhật Bản. Tại Trung Quốc tỷ lệ mắc là 32,8% với nam giới từ 40 đến 49 tuổi, 36,4% với nam giới từ 50 đến 59 tuổi, 74,2% với nam giới từ 60 đến 69 tuổi và 86,3% với nam giới trên 70 tuổi.

            Tại Việt Nam theo một nghiên cứu của Trần Quán Anh và Phạm Văn Trịnh thì tỷ lệ rối loạn cương dương là 15,7%.

III. Sinh lý học cương dương


Cơ chế cương dương vật tại xoang mạch máu.

Cương dương là một hiện tượng mạch máu - thần kinh được điều khiển bởi các yếu tố tâm lý và tình trạng nội tiết. Trong trạng thái xìu, các cơ trơn của động mạch dương vật và thể hang nằm trong tình trạng trương lực ( co thắt). Khi có kích thích tình dục, các xung động thần kinh làm phóng thích các chất dẫn truyền thần kinh từ các tận cùng thần kinh hang và các yếu tố giãn cơ từ các tế bào nội mạc dương vật, đưa đến giãn cơ trơn động mạch và tiểu động mạch nuôi dưỡng mô cương và làm tăng dòng máu đến dương vật gấp nhiều lần. Cùng lúc, sự giãn cơ trơn bè làm tăng suất đàn của các xoang, tạo điều kiện cho hệ thống xoang được giãn nở và đổ đầy nhanh chóng. Áp suất động mạch ép lên thành các xoang, do đó ép lên bao trắng làm bao này dài ra và đồng thời ép lên các tĩnh mạch dẫn lưu máu. Cơ chế đóng tĩnh mạch này ( veno – occlusion) hạn chế dòng máu ra khỏi các xoang hang. Các hiện tượng trên làm máu bị giữ lại trong thể hang và làm tăng áp suất thể hang lên khoảng 100mmHg.

Giao hợp sẽ kích hoạt phản xạ hành hang, làm các cơ ngồi - hang co ép mạnh lên đáy các thể hang căng máu và do đó dương vật trở lên cương cứng hơn, với áp suất trong thể hang có thể đạt tới vài trăm mmHg. Khi đó dòng máu ra – vào dương vật sẽ tạm ngừng. Sau khi xuất tinh hay ngưng kích thích tình dục, các cơ trơn bao quanh động mạch co lại, dòng máu đến giảm và dẫn lưu máu tĩnh mạch của các xoang được mở ra, đưa dương vật về trạng thái xìu.


Cơ chế sinh hóa của cương dương vật.

Sự cương dương vật được kiểm soát bởi trung tâm thần kinh cương tự động, thần kinh phó giao cảm ( S2-S4) và giao cảm ( T12-L2) và thần kinh thân thể. Tại vùng chậu, các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm hợp lại tạo thành thần kinh hang, chúng đi vào trong thể hang, thể xốp và quy đầu để điều khiển dòng máu trong quá trình cương và xìu. Kích thích giao cảm làm co cơ trơn xoang hang gây xìu. Kích thích phó giao cảm có thể gây cương nhờ ức chế giao cảm cũng như phóng thích oxit nitric ( NO) từ nội mạc. NO là một chất dẫn truyền thần kinh chính của sự giãn cơ trơn dương vật, được phóng thích từ sự dẫn truyền thần kinh không tiết adrenalin và không tiết acetylcholine ( nonadrenergic noncholinergic neurotransmission). NO kích hoạt men guanylate cylase để làm tăng guanosine monophosphate vòng ( cGMP) nội bào, rồi một loạt các phản ứng hóa sinh diễn ra đưa tới sự thay đổi tính thấm của các kênh trao đổi ion kali và calci, để sau cùng nồng độ ion calci nội bào giảm, gây giãn cơ và làm tăng dòng máu đến. Các men phosphodiesterase ( PDE) điều hòa chu trình này bằng cách bất hoạt cGMP, biến đổi cGMP thành GMP, đưa đến sự gia tăng nồng độ calci nội bào làm co cơ. PDE5 là type quan trọng nhất của PDE trong thể hang. Các chất ức chế men PDE5 trên lâm sàng ( sildenafil, tadalafil,…) đều có tác động làm tăng sự giãn cơ trơn bằng cách cho phép tích tụ cGMP một khi NO được phóng thích, khi có kích thích tình dục. Sự giãn cơ trơn thể hang dẫn đến cương dương vật không chỉ qua trung gian chất NO và cGMP, mà còn có thể thông qua cAMP để làm giảm Ca++ tự do nội bào dưới tác động của những chất dẫn truyền thần kinh khác như vasoactive intestinal polypeptide ( VIP), prostaglandins…

Thần kinh thẹn, là thành phần của thần kinh thân thể, chịu trách nhiệm về cảm giác của dương vật và sự co cơ hay giãn cơ của các cơ ngồi hang, hành hang.

Có ba cơ chế khởi phát các biến đổi huyết động ở dương vật: cương sinh lý xảy ra theo đường dẫn truyền kích thích ( chẳng hạn âm thanh, hình ảnh, xúc giác) đi theo trung tâm cương tủy sống; cương phản xạ, gây ra do sự kích thích trực tiếp lên cơ quan sinh dục và dạ cương, xảy ra trong giai đoạn mắt đi động nhanh ( REM) của giấc ngủ.

IV. Nguyên nhân

 

Nguyên nhân

Ví dụ

Tuổi cao

 

Tâm lý

Trầm cảm, lo lắng

Thần kinh

Bệnh não, chấn thương cột sống, bệnh thần kinh ngoại vị

Nội tiết

Suy tuyến sinh dục, cường prolactin, cường giáp, suy giáp, bệnh Addison, hội chứng Cushing

Mạch máu

Xơ vữa mạch máu, suy tĩnh mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh lí mạch máu thể hang

Thuốc

Thuốc hạ huyết áp, chống trầm cảm, estrogen, digoxin

Thói quen

Nghiện rượu, hút thuốc, ma túy

Khác

Đái tháo đường, suy thận, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1. Nguyên nhân động mạch

            Tổn thương động mạch có thể làm giảm lượng máu tới dương vật để đạt trạng thái cương bình thường. Nguyên nhân thường gặp là xơ vữa mạch máu. Bệnh lý mạch máu chia ra thành ngoài dương vật ( bệnh tại động mạch thẹn trong, động mạch chậu trong, động mạch chủ, đáp ứng với điều tri ngoại khoa) và trong dương vật ( do tuổi cao, đái tháo đường,.. không đáp ứng với ngoại khoa). Nguyên nhân khác là phẫu thuật vùng chậu, chấn thương vùng kín nhất là khi tổn thương niệu đạo màng, chấn thương tầng sinh môn như trong xe đạp đường trường

2. Nguyên nhân thể hang

            Nguyên nhân thể hang hay nguyên nhân tĩnh mạch có thể chia thành năm nhóm tùy nguyên nhân: 1) những tĩnh mạch lớn đi ra khỏi thể hang, 2) kênh tĩnh mạch bị giãn do bao trắng mất đàn hồi, 3) cơ trơn thể hang không giãn nở do xơ hóa, thoái hóa, 4) không giải phóng đủ chất dẫn truyền thần kinh, 5) nối thông bất thường giữa thể hang và thể xốp, quy đầu ( bẩm sinh, phẫu thuật).

3. Nguyên nhân thần kinh

            Các bệnh tại não ( Parkinson, Alzheimer, chấn thương sọ não, tai biến mạch não) thường gây rối loạn cương do giảm ham muốn và ngăn chặn khởi phát quá trình cương. Chấn thương cột sống gây rối loạn cương tùy mức độ và vị trí chấn thương. Các bệnh lí thần kinh ngoại biên do đái tháo đường, nghiện rượu, thiếu vitamin có thể ảnh hưởng lên tận cùng thần kinh, làm giảm lượng chất dẫn truyền thần kinh.

4. Nguyên nhân nội tiết

            Giảm androgen làm giảm ham muốn tình dục và dạ cương tuy nhiên cương do kích thích tình dục thị giác vẫn còn nên vai trò của androgen không phải là chủ yếu trong sự cương dương. Không có mối quan hệ rõ rệt giữa nồng độ testosterone và chức năng cương. Bệnh nhân tăng prolactin máu đứa đến rối loạn cương do prolacitn ức chế tết dopamin trung ương giảm phóng thích GnRH gây suy tuyến sinh dục do giảm tiết gonadotropin.

5. Bệnh mạn tính và cao tuổi

            Đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch khác thường gặp trong rối loạn cương dương. Suy thận mạn gây rối loạn cương do giảm nồng độ testosteron, do dùng các thuốc điều trị, do tổn thương mạch máu, thần kinh, căng thẳng tâm lý. Rối loạn cương hoàn toàn cũng ghi nhận gia tăng theo mức độ trầm trọng của trầm cảm, có đến 90% bệnh nhân trầm cảm nặng bị rối loạn cương dương hoàn toàn. Các bệnh lý như loét tiêu hóa, viêm khớp, dị ứng cũng phối hợp vợi sự tăng tỷ lệ rối loạn cương.

            Chức năng cương của người cao tuổi giảm dần biểu hiện qua sự gia tăng khoảng cách giữa kích thích tình dục và sự cương, dương vật cương kém cứng, xuất tinh không mạnh, thể tích tinh dịch giảm và giai đoạn trơ giữa hai lần cương kéo dài.

6. Rối loạn cương do thuốc

            Khoảng 25% trường hợp rối loạn cương do thuốc gây ra. Các thuốc gây rối loạn cương là lợi tiểu thiazide, ức chế beta ( do kích thích hoạt tính alpha 1 adrenergic trên dương vật), thuốc chống trầm cảm như ức chế monoamine oxidase và chống trầm cảm ba vòng. Benzodiazepines, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin được ghi nhận là gây ra rối loạn cương, giảm ham muốn tình dục, rối loạn xuất tinh. Cimetidine, digoxin, metoclopramide cũng như các steroid đồng hóa gây ra rối loạn cương hoặc do tác động trực tiếp trên mô dương vật, hoặc thông qua ức chế quá trình sản xuất androgen bình thường.

            Có tới 75% bệnh nhân nghiện rượu bị rối loạn cương. Việc rối loạn cương này có thể do sự phối hợp của yếu tố vừa tâm lý vừa do bệnh lý thần kinh, suy tuyến sinh dục.

7. Nguyên nhân tâm lý

            Nguyên nhân tâm lý có lẽ là nguyên nhân hay gặp nhất ở người trẻ bị rối loạn cương từng đợt. Yếu tố tâm lý cũng thường gặp ở người lớn tuổi, thứ phát sau yếu tố thực thể. Lo lắng về khả năng hoàn thiện, thiếu kích thích ham muốn và trục trặc về mối quan hệ vợ chồng cũng thường là nguyên nhân gây ra rối loạn cương.

V. Chẩn đoán

Vấn đề quan trọng trong chẩn đoán rối loạn cương dương là nhằm xác định bệnh nhân có thuộc vào một trong ba nhóm rối loạn cương dương có điều trị đặc hiệu hay không. Vì thế, hiện nay, chẩn đoán cơ bản chỉ bao gồm hỏi bệnh sử tình dục kỹ lưỡng, bệnh sử chung, khám lâm sàng, định lượng testosterone máu, lipid máu, chức năng gan thận, đường máu. Các xét nghiệm chuyên sâu chỉ thực hiện cho bệnh nhân có nhiều nghi ngờ thuộc ba nhóm bệnh nội tiết, tâm lý và mạch máu chữa trị được.

1. Hỏi bệnh

Tiền sử của bệnh nhân cần được khai thác kỹ, cũng như các chi tiết về thuốc đang được sử dụng, hút thuốc lá, uống rượu và sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ của rối loạn cương dương ( ví dụ: bệnh ngoại khoa hay mạch máu) cũng cần được ghi nhận. Sự bảo tồn của dạ cương thường đồng thời với việc không có nguyên nhân thực thể. Rất nhiều bảng câu hỏi đánh giá mức độ rối loạn cương dương đã được đề ra bởi nhiều tác giả, trong đó có bảng Sức khỏe Tình dục Nam giới SHIM ( Sexual Health Inventory for Men) hay còn gọi là Chỉ số Chức năng Cương Quốc tế IIEF-5 ( 5 item Version of the International Index of Erectile Function).

Bảng Chỉ số Chức năng Cương Quốc tế IIEF-5.

Câu hỏi

Câu trả lời

Trước điều trị

Sau điều trị

Câu hỏi 1:

Mức độ tự tin của anh/ ông về khả năng dương vật có thể cương được?

Rất thấp

1

1

Thấp

2

2

Trung bình

3

3

Cao

4

4

Rất cao

5

5

Câu hỏi 2:

Khi dương vật cương sau kích thích tình dục, số lần dương vật đủ cứng để giao hợp được?

Hầu như không bao giờ

1

1

Vài lần ( ít hơn 1/2 tổng số)

2

2

Thỉnh thoảng ( bằng 1/2 tổng số)

3

3

Thường được ( nhiều hơn 1/2 tổng số)

4

4

Hầu như/ luôn luôn

5

5

Câu hỏi 3:

Trong lúc đang giao hợp số lần anh/ ông giữ dương vật cương được?

Hầu như không bao giờ

1

1

Vài lần ( ít hơn 1/2 tổng số)

2

2

Thỉnh thoảng ( bằng 1/2 tổng số)

3

3

Thường được ( nhiều hơn 1/2 tổng số)

4

4

Hầu như/ luôn luôn

5

5

Câu hỏi 4:

Trong lúc đang giao hợp mức độ khó khăn để giữ dương vật cương cho tới khi giao hợp xong?

Vô cùng khó khăn

1

1

Rất khó

2

2

Khó

3

3

Hơi khó

4

4

Không khó khăn

5

5

Câu hỏi 5:

Khi giao hợp anh/ ông có thường thỏa mãn không?

Hầu như không bao giờ

1

1

Vài lần ( ít hơn 1/2 tổng số)

2

2

Thỉnh thoảng ( bằng 1/2 tổng số)

3

3

Thường được ( nhiều hơn 1/2 tổng số)

4

4

Hầu như/ luôn luôn

5

5

 

Phân độ rối loạn cương dương theo tổng số điểm của năm câu hỏi:

+       22-25: không có rối loạn cương dương.

+       17-21: rối loạn cương dương nhẹ.

+       12-16: rối loạn cương dương mức độ nhẹ đến trung bình.

+       08-11: rối loạn cương dương trung bình.

+       05-07: rối loạn cương dương nặng.

Đo huyết áp, bắt mạch và khám thần kinh cần được thực hiện, kể cả đo phản xạ hành hang và đo trương lực cơ vòng hậu môn. Những đặc điểm giới tính thứ phát cũng cần được đánh giá để tìm các dấu hiệu của suy tuyến sinh dục và bất thường tại chỗ của bộ phận sinh dục ngoài. Dương vật nên được sờ tìm mảng xơ Peyronie và tinh hoàn được khám đo kích thước và mật độ.

2. Xét nghiệm chẩn đoán suy sinh dục

Testosterone toàn phần huyết thanh là đủ. Nếu nồng độ testosterone bất thường hay nếu có dấu hiệu suy tuyến sinh dục thì khảo sát toàn bộ sẽ bao gồm testosterone toàn phần, testosterone tự do, LH và prolactin huyết thanh.

3. Chẩn đoán rối loạn cương dương do tâm lý

Rối loạn tâm lý hầu như luôn luôn có trong các trường hợp rối loạn cương dương và thường khó xác định rối loạn tâm lý là nguyên phát hay thứ phát sau một nguyên nhân thực thể. Khảo sát độ phồng và độ cứng dương vật về đêm ( NPTR, nocturnal penile tumescense and rigidity) có thể dùng để khảo sát dạ cương có bình thường hay không. Nếu bệnh nhân không có cương dương vật khi hoạt động tình dục nhưng khảo sát NPTR bình thường thì bệnh nhân có khả năng bị rối loạn cương dương do tâm lý. Ngoài NPTR thì biện pháp kích thích thị giác tình dục ( VSS, visual sexual stimulation) được nhiều chuyên gia lựa chọn vì cương do đáp ứng với VSS giống với cương trong hoạt động tình dục hơn là dạ cương.

4. Khảo sát mạch máu dương vật

Chỉ áp dụng cho các bệnh nhân trẻ bị rối loạn cương dương do chấn thương vùng chậu hay tầng sinh môn. Mục tiêu của khảo sát là nhằm xem bệnh nhân có thể chỉ định phẫu thuật mạch máu dương vật hay không.

5. Các thăm dò thần kinh

Trừ một vài trường hợp hiếm hoi, xét nghiệm thần kinh không thay đổi phương cách điều trị rối loạn cương dương. Mặt khác, hiện nay, chưa có xét nghiệm khảo sát được các chất dẫn truyền thần kinh. Do vậy khảo sát thần kinh trong rối loạn cương dương chỉ nhằm phát hiện một bệnh thần kinh có thể hồi phục như trong rối loạn cương dương do cưỡi xe đạp đường dài, chấn thương vùng chậu và để nhận định xem có cần chuyển bệnh nhân tới bác sĩ chuyên khoa thần kinh hay không.

VI. Điều trị rối loạn cương dương

A. Các biện pháp điều trị đặc hiệu

1.Tư vấn tâm lý tình dục

Những bệnh nhân có yếu tố tâm lý có thể được giúp đỡ bằng tâm lý liệu pháp. Tuy nhiên, trừ những trường hợp tâm lý rõ ràng, các biện pháp điều trị ít xâm lấn mà hiệu quả như thuốc ức chế men PDE5 có lẽ có ích hơn những buổi tâm lý trị liệu kéo dài. Tâm lý trị liệu bao gồm tập trung cảm giác ( sensate focus), giáo dục giới tính, liệu pháp mối quan hệ cá nhân ( interpersonal therapy). Dữ liệu liên quan đến hiệu quả của các kỹ thuật này còn chưa thống nhất.

2. Liệu pháp nội tiết

Testosterone có thể cải thiện chức năng cương ở một số bệnh nhân bị suy tuyến sinh dục. Hiện đã có những dạng thuốc testosterone mới, cũng như những dạng uống không kèm độc tính gan. Tăng prolactin huyết thường được xử trí bằng bromocriptine hay những thuốc tương tự như cabergoline. Đôi khi, phẫu thuật được dùng để cắt bỏ những khối u tăng tiết prolactin. Trong một phân tích tổng hợp về 16 nghiên cứu đánh giá cải thiện rối loạn cương dương ở bệnh nhân suy sinh dục điều trị bằng testosterone hiệu quả hơn so với giả dược ( 57% so với 16,7%).

3. Phẫu thuật mạch máu

Phẫu thuật nối động mạch thượng vị dưới với động mạch lưng dương vật theo kỹ thuật Michal hay tĩnh mạch lưng sâu theo kỹ thuật Virag, đôi khi được chỉ định cho bệnh nhân có tắc nghẽn động mạch, những cần chọn bệnh nhân cẩn thận. Kết quả tốt nhất ( 55 - 80% bệnh nhân) là trên bệnh nhân trẻ dưới 35 tuổi, có sang thương động mạch riêng lẻ sau chấn thương.

B. Các biện pháp điều trị không đặc hiệu

1. Thay đổi lối sống

Mặc dù hiệu quả không rõ ràng nhưng bệnh nhân cần được khuyên nên thay đổi lối sống như tập thể dục thường xuyên, ngừng hút thuốc lá, uống ít rượu bia và dinh dưỡng hợp lý. Ngưng đạp xe đường dài hay sử dụng yên xe lớn cũng có thể cải thiện tình trạng rối loạn cương dương do chèn ép động mạch dương vật.

2. Thay đổi thuốc đang sử dụng

Chuyển sang sử dụng các thuốc ức chế alpha adrenergic thay cho thuốc ức chế beta có thể cải thiện tình trạng cương trên những bệnh nhân bị tăng huyết áp. Với bệnh nhân bị trầm cảm sử dụng trazodone có thể tốt cho tình trạng cương.

3. Trị liệu bước một ( first line therapy):

3.1. Các thuốc ức chế men PDE5

Sildenafil là thuốc đầu tiên được lưu hành trên thị trường ( 1998) và sau đó là vardenafil và tadalafil ( 2003). Vardenafil có cấu trúc tương tự sildenafil nhưng có năng lực ức chế PDE5 mạnh hơn và chọn lọc hơn. Tadalafil có cấu trúc khác hai chất trên, nhưng cơ chế tác động thì tương tự, cùng ức chế PDE5 làm tăng cGMP trong tế bào cơ trơn của xoang hang. Các chất ức chế PDE5 không làm tăng nồng độ NO nhưng làm tăng hiệu quả của NO trên sự giãn cơ trơn. Vì thế, nếu không có ham muốn tình dục để khởi phát quá trình giải phóng NO, các chất ức chế PDE5 không có tác dụng.

3.2. Bơm hút chân không


Cấu tạo bơm hút chân không điều trị rối loạn cương dương.

Không khí được hút khỏi ống trụ nhờ tay để tạo áp lực âm và gây cương dương vật. Sau đó vòng cao su được tụt khỏi ống, tới chẹn ngay gốc dương vật và ống trụ được rút ra. Biện pháp này đáng tin cậy và nếu sử dụng đúng cách thì chỉ có vài biến chứng nhỏ. Nó thường được người cao tuổi có quan hệ vợ chồng lâu dài ưa chuộng, trong khi những người trẻ thì ưa chuộng các biện pháp khác.

4. Trị liệu bước hai ( second line therapy)

Tiêm thuốc vào thể hang



Tiêm thuốc vào thể hang điều trị rối loạn cương dương.

Thuốc giãn mạch được tiêm vào trong thể hang để làm giãn động mạch và máu đổ đầy các xoang hang. Cương thường xảy ra trong vòng 15 phút và kéo dài khoảng 1 giờ. Papaverine là thuốc được sử dụng đầu tiên để tiêm thể hang, nhưng do dễ có biến chứng cương dương vật kéo dài nên papaverine ít được sử dụng. Tuy nhiên hiệu quả của papaverine là 84,8% với 65% trường hợp cương tự nhiên xuất hiện trở lại. Alprostadil thường được sử dụng với hiệu quả 75% và ít gây ra cương dương vật kéo dài hơn nhiều so với papaverine nhưng lại gây đau thân dương vật nhiều nhất ( 40% bệnh nhân).

5. Trị liệu bước ba ( third line therapy)

Phẫu thuật đặt thể hang nhân tạo ( penile prosthesis)


Cấu tạo của thể hang nhân tạo.

Thể hang nhân tạo được bắt đầu áp dụng từ năm 1970 là trị liệu đầu tiên của rối loạn cương dương thực thể. Có ba loại thể hang nhân tạo là loại bán cứng hay loại bẻ gập được, các dụng cụ bơm phồng được bao gồm loại dụng cụ hai phần mà bơm bìu và bồn chưa là một, loại dụng cụ ba phần thì bồn chứa nằm riêng và được cấy trong vùng chậu. Những dụng cụ này có tỉ lệ hài lòng rất cao của bệnh nhân và bạn tình. Các nguy cơ bao gồm nhiễm trùng và hư hỏng mà có thể cần phải lấy ra.

VII. Một số bệnh cảnh đặc biệt

1. Rối loạn cương ở bệnh nhân suy thận mạn

    Mối quan hệ giữa suy thận mạn và rối loạn cương đã được ghi nhận từ năm 1975, theo Cerqueira ( 2002), nghiên cứu trên 119 bệnh nhân suy thận mạn, tỷ lệ rối loạn cương là 57,9%. Ở các bệnh nhân suy thận mạn có sự giảm chất lượng cuộc sống, do bệnh thận mạn diễn biến và các triệu chứng bệnh gây ra và rối loạn cương càng làm giảm thêm chất lượng cuộc sống.

Sinh bệnh học của rối loạn cương ở bệnh nhân suy thận mạn có rất nhiều nguyên nhân như thần kinh, tổn thương tế bào Leydig làm giảm testosteron, cường prolactin máu, tổn thương mạch máu, các thuốc điều trị tăng huyết áp, các yếu tố tâm lý.

Điều trị rối loạn cương cho bệnh nhân suy thận mạn bằng thuốc ức chế PDE-5 cần chú ý đến giảm liều khởi đầu ( bằng ½ liều bình thường) và tương tác giữa thuốc này với các thuốc hạ huyết áp, giãn mạch vành.

2. Rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường

    Đái tháo đường gây rối loạn cương do biến chứng mạch máu, thần kinh và tâm lý hơn là qua cơ chế nội tiết. Rối loạn cương là biến chứng hay gặp nhất của đái tháo đường ( chiếm tỷ lệ từ 35% - 75% bệnh nhân nam giới) và gia tăng theo tuổi. Có tới 12% bệnh nhân đến khám lần đầu tiên vì rối loạn cương mà được phát hiện có đái tháo đường. Nam giới bị đái tháo đường có nguy cơ rối loạn cương cao gấp 2 đến 3 lần người không bị.

    Những bệnh nhân nam đái tháo đường và nam giới cao tuổi hơn được ghi nhận có tỷ lệ cao về tổn thương xơ hóa của động mạch thể hang, sự gia tăng nội mạc, canxi hóa và hẹp lòng mạch. Đái tháo đường cũng làm giảm suất đàn của các xoang tĩnh mạch và những biến đổi tại bao trăng đưa tới sự ép không hiệu quả các tĩnh mạch xuất và tĩnh mạch dưới bao trắng. Thêm nữa sự tổn hại thần kinh và tổn hại sự giãn mạch phụ thuộc nội mô, do không phóng thích đủ NO, cũng được ghi nhận ở bệnh nhân đái tháo đường.

    Những thuốc ức chế PDE-5 làm tăng tác động giãn cơ trơn thể hang của NO. Trên bệnh nhân đáo tháo đường có rối loạn cương thực thể rõ ràng, sidenafil có tác động trên khoảng 50% các trường hợp.

    Ngoài ra bệnh nhân có thể dùng bơm hút, đó là biện pháp đáng tin cậy và nếu sử dụng đúng cách thì chỉ có vài biến chứng nhỏ.

    Thể hang giả là biện pháp cuối cùng. Biến chứng nhiễm trùng sau đặt thể hang nhân tạo khoảng 9,9% - 18,8%. Các biến chứng thường xảy ra trên đối tượng đái tháo đường, chấn thương cột sống, nhiễm khuẩn tiết niệu,...và thường xảy ra trong ba tháng đầu sau phẫu thuật. Thể hang giả còn có vấn đề như sự bất tiện, giảm cảm giác quy đầu, thủng qui đầu.

3. Trầm cảm, lo âu và rối loạn cương

    Trầm cảm và lo âu là những rối loạn tâm thần thường gặp trong rối loạn cương. Ngoài ra, đây còn là nguyên nhân của các rối loạn tình dục nam khác như giảm ham muốn, xuất tinh sớm hay không xuất tinh.

    Lo âu về khả năng quan hệ tình dục là nguyên nhân chính trong rối loạn cương do tâm lý, theo Masters và Jonhson, chiếm khoảng 65% các trường hợp rối loạn cương ( 1/3 trường hợp là nguyên nhân tâm lý đơn thuần, 2/3 phối hợp nguyên nhân thực thể).

     Điều trị giảm lo âu, trầm cảm bằng biện pháp tâm lý và thuốc bên cạnh việc tư vấn giải quyết các bất đồng trong quan hệ vợ chồng được xem là biện pháp chính.

4. Rối loạn cương do tổn thương động mạch thể hang

    Tổn thương động mạch thể hang do chấn thương là một trong những nguyên nhân đặc hiệu của rối loạn cương. Phẫu thuật nối động mạch thượng vị dưới với động mạch lưng dương vật có thể phục hồi chức năng cương.

Chẩn đoán:

    Siêu âm doppler mạch máu giúp khảo sát đường đi của động mạch thượng vị dưới và chọn động mạch lưng dương vật còn tốt để nối.

    Chụp động mạch hang chọn lọc: chỉ được thực hiện khi dự trù phẫu thuật động mạch. Bệnh nhân cần được tiêm thuốc giãn mạch vào thể hang, sau đó, kích thước và chiều dài các động mạch thượng vị dưới, thể hang, lưng dương vật được đo.

Điều trị:

    Nối thông sớm động mạch sau tai nạn có thể tăng khả năng thành công. Phẫu thuật thường dùng là vi phẫu nối động mạch thượng vị dưới vơi động mạch lưng dương vật. Kết quả cải thiện chức năng cương ở 55% - 80% bệnh nhân dưới 35 tuổi.

 Nguồn:

Nam khoa lâm sàng ( Ts.Bs. Nguyễn Thành Như)

Tổng hợp

BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn